Nên cho học sinh Việt Nam học tiếng Anh ở tuổi nào thì hợp nhất? (phần 1)

Tiến sĩ Phạm Đăng Bình Khoa ngôn ngữ & văn hoá Anh Mĩ, ÐHNN-ÐHQGHN l. Lời mở đầu Hiện nay việc dạy học tiếng Anh cho học sinh các độ tuổi khác nhau đang được quan tâm hầu hết các trường từ mầm non đến các cấp học phổ thông khác. Ở các thành phố lớn, nhiều trường đã tổ chức cho trẻ em quen với tiếng Anh ngay ở độ tuổi mầm non (3 đến 5 tuổi) và các lớp một và hai (6 đến 7 tuổi) . Nhiều bậc phụ huynh rất sung sướng khi thấy con em mình được sớm tiếp xúc với tiếng Anh trong thời kì kinh mở cửa. Trái lại không ít phụ huynh đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc cho học và làm quen với tiếng Anh. Họ sợ rằng ở độ tuổi này các em học đọc tiếng mẹ đẻ còn chưa tốt thì việc học thêm một ngoại ngữ nữa së gây sự quá tải cho học sinh. Trước các luồng ý kiến khác nhau này, thái độ trong cúa các nhà quản lí giáo dục là không cho phép tiếng Anh ở lớp một và hai. Trong bài viết này chúng tôi muốn đóng góp ý kiến của mình về việc chúng ta nên cho trẻ em làm quen và học tiếng Anh ở độ tuổi nào? Vấn đề này có thể chưa được nghiên cứu sâu ở Việt Nam, nhưng nó đã được các chuyên gia dạy ngoại ngữ và các nhà nghiên cúu nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới đề cập đến từ những năm sáu mươi. Chúng ta hy vọng các cơ sở về lí luận và thực tế dạy học tiếng Anh trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây së giúp cho các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo dạy tiếng Anh và các nhà quản lí giáo dục và cả các bậc phụ hyunh hiểu thêm được những cái lợi trước mắt cüng như lâu dài của việc cho học sinh tiểu học tiếp xúc sớm với tiếng Anh – một ngoại ngữ mang tính quốc tế cao.
Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới về khả năng học ngôn ngữ của trẻ em.
Ngay từ những năm sáu mươi đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới thời điểm tốt nhất cho việc thụ đắc ngôn ngữ (critical period for language acquisition). Theo họ trong cuộc đời con người có một thời điểm tốt nhất về mặt sinh học giúp cho việc thụ đắc ngôn ngữ một cách dễ dàng. Ngoài thời điểm này ra thì việc thụ đắc ngôn ngữ sẽ khó dần lên. Ban đầu các nhà nghiên cứu chủ yếu quan tâm đến việc trẻ em thụ đắc tiếng mẹ đẻ. Những người có đóng góp nhiều khi nghiên cứu giả thuyết này phải kể đến Lenenberg (1967) và Bickerton (1981). Kết quả nghiên cứu của họ đã được các nhà nghiên cúu quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai áp dụng trong khi nghiên cứu quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai trong bối cảnh không có môi trường tiếng. Các đại diện nổi tiếng trong lïnh vực này là Walsh và Diller (1981) Cummins (1980), Flege (1981). Họ cho rằng thời điểm học tiếng thứ hai tốt nhãt là (3 tuổi dậy thì, quá độ tuổi này thì người ta gần như không có khả năng có được giọng nói như người bản ngữ. Ðể hiểu rõ hơn về thời điểm học ngoại ngữ tốt nhãt chúng ta cân phåi xem xét thêm các kết quả nghiên cứu về sinh lí, tâm lí, ngôn ngữ và những kết quả có thể quan sát được trong thực tế cuộc sống ở Việt Nam và trên thế giới trong những thập kỉ qua.
2. Kết quả nghiên cứu của các nhà sinh lí học.
Một số các nhà nghiên cứu về sinh lí đã rất quan tâm đến quá trình thụ đắc - ngôn ngữ thứ hai, đặc biệt là ảnh hưởng của sự phát triển não bộ đến sự thành công của quá trình này. Họ cho rằng khi não bộ phát triển đầy đủ thì một số chức năng nhất định sẽ được qui định cho bán cầu não trái và bán cầu não phải. Các chức năng trí tuệ, logic và phân tích được xuãt kiện chú yếu bán cầu não trái, trong khi đó bán cầu não phải kiểm soát các chức näng có liên quan đến các nhu cầu tình cảm và xã hội. Họ còn phát hiện thãy quá trình phân định chức năng (trong đó có chúc năng ngôn ngữ) diễn ra một cách châm chễ. Eric Lennenberg (1967) cho rằng quá trình này bắt đầu khi trẻ khoảng 2 tuổi và hoàn chỉnh (3 trong khoảng thời gian tuổi dậy thì . Thomas Scovel (1969) nhận xét thấy sự linh họat của bộ não trước tuổi dậy thì cho phép trẻ em thụ đắc không phải chỉ ngôn ngữ thứ nhãt mà cả ngôn ngữ thứ hai và có thể chính sự kết thúc của quá trình phân định chức năng đã làm cho người ta khó có thể có được khả năng nói lưu loát ngôn ngữ thứ hai, hoặc ít ra là người ta khó có thể có được khả năng phát âm như người bản ngữ.
Nhiều nhà nghiên cứu khác còn cho rằng quá trình phân định chức năng diễn ra sớm hơn thời điểm tuổi dậy thì. Stephen Krashen (1973) nhận xét thấy quá trình này kết thúc khi trẻ ở vào độ 5 tuổi . Ðiều này được thực tế chúng minh là hoàn toàn không hề mâu thuẫn với các ý kiến bên trên vì nếu quan sát trẻ em học tiếng mẹ đẻ thì chúng ta có thé thấy khi lên 5 trẻ em đã nói vô cùng lưu loát về nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống.
Các nhà nghiên cứu về sinh lí học còn chỉ ra một lợi thế nữa khi trẻ em học ngoại ngữ trước tuổi dậy thì. Ðó là sự linh họat của các cơ quan cấu âm. Chính nhờ có sự linh họat mà việc nắm vững cách phát âm hệ thống âm vị của ngôn ngữ thứ hai sẽ rất dễ dàng về mặt sinh học. Họ hay so sánh một cách hình ảnh việc cho trẻ em học cách phát âm sớm cũng không khác gì việc rèn luyện các kĩ năng thể dục thể thao cho các vận động viên ngay khi họ còn nhỏ tuổi.
2.2.Kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học
Các nhà tâm lí học cho rằng quá trình phát triển tâm lí của con người diễn ra một cách nhanh chóng trong 16 näm đàu của đời người và chậm hơn ở tuổi trưởng thành. Theo Jean Piaget con đường phát triển trí tuệ của trẻ diễn ra theo 3 giai đọan : Giai đọan cảm nhận từ 0 đến 2 tuổi, giai đoạn tiền hoạt động từ 2 đến 7 tuổi , và giai đoạn hoạt động từ 7 đến 16 tuổi. Giai đoạn quan trọng nhãt để quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai xảy ra ở hai giai đoạn đầu của tuổi dậy thì. Chính ở giai đoạn này con nguời có khả năng khái quát và tu duy trừu tượng. Ðiều này giúp cho họ bứt phá khỏi các kinh nghiệm cụ thể và sự nhận thức trực tiếp. Theo Ausubel (1964) người lớn khi học ngoại ngữ së gặp khó khän nhiều hơn vì họ phải dựa vào các cách giải thích ngữ pháp nhất định và khả năng tu duy diễn dịch. Nguời lớn có khả năng nhận thức hơn hẳn nhưng thường không thành công lắm trong khi họ ngôn ngữ thứ hai. Vì khả năng này có thể có tác động tốt nhưng có thể lại có tác động gây cản trở đối với việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai. Trái lại, trẻ em có thể học ngôn ngữ thứ hai lại rãt thành công vì chúng không bị ảnh hưởng nhiều của các yếu tố trên. Rosansky (1975) cho rằng việc thụ đắc ngôn ngữ đầu tiên diễn ra khi đứa trẻ được coi là trung tâm. Ðứa trẻ không những chỉ tập trung vào bản thân nó mà còn chỉ tập trung vào một vấn đề một lần khi gặp khó khăn. Sự thiếu linh hoạt và thiếu tập trung này có thể là một sự cần thiết cho việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.
Một phát hiện quan trọng nữa của các nhà tâm lí học là trẻ em rất có khả năng học một cách máy móc. Trẻ em có thể sử dụng rất tốt những điều được nhắc lại một cách vô nghïa và những gì đã bắt chước được.
Các nhà tâm lí học còn phát hiện ra một điều khá quan trọng nữa là thái độ của trẻ em trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ là rất tích cực. Theo Alexander Guiora (1972) trẻ em khi bị mắc lỗi ít lo lắng và sợ hãi hơn người lớn vì chúng ít chú ý đến các hình thức ngôn ngữ và việc mắc các lỗi này, khi chúng tìm cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp không làm cho chúng bận tâm nhiều lắm. Ðây chính là những điều kiện rất tốt khiến cho trẻ em thụ đắc ngôn ngữ thứ hai hiệu quả và dễ dàng hơn người lớn.
Các nhà tâm lí học còn phát hiện ra một điều khá quan trọng nữa là thái độ của trẻ em trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ là rất tích cực. Theo Alexander Guiora (1972) trẻ em khi bị mắc lỗi ít lo lắng và sợ hãi hơn người lớn vì chúng ít chú ý đến các hình thức ngôn ngữ và việc mắc các lỗi này, khi chúng tìm cách sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp không làm cho chúng bận tâm nhiều lắm. Ðây chính là những điều kiện rất tốt khiến cho trẻ em thụ đắc ngôn ngữ thứ hai hiệu quả và dễ dàng hơn người lớn.
Ðã có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy trẻ em có thể học được hai hoặc nhiều ngôn ngữ một lúc mà không hề bị lẫn lộn. Trong một số trường hợp việc thụ đắc cả hai ngôn ngữ ở trẻ em song ngữ có thể chậm hơn quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất. Nhưng theo Wallace Lambert (1962) khả năng song ngữ này hoàn toàn không ảnh hưởng đến sự phát triển trí thông minh. Trẻ em song ngữ có thể hơn hẳn một chút so vói các trẻ khác chúng có một tài sản ngôn định do chúng dễ dàng hơn trong việc hình thành khái niệm và có khả năng linh họat hơn.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phân lớn quá trình phát triển ngôn ngữ và nhận thức khi học ngôn ngữ thứ hai trẻ em nhìn chung là giống với quá trình học thứ tiếng thứ nhất. Ðiều này có thể thấy qua các lỗi của trẻ em khi học tiếng Anh. Khi nghiên cứu 500 lỗi của học sinh Tây ban nha học tiếng Anh , Dulay và Burt (1974) đã nhận xét thấy 86% số lỗi đều là các lỗi phát triển chứ không phải các lỗi do chuyển di từ tiếng mẹ đẻ sang ngôn ngữ thứ hai. Kết quá nghiên cứu này cho thấy nếu học ngoại ngữ sớm trẻ em sẽ đỡ gặp khó khăn hơn do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ.
2.4.Cơ sở thực tiễn:
Ở các nước lớn có nền văn hoá đa sắc tộc người ta thấy có hiện tượng trẻ em trong độ tuổi tiền học đường (pre-school children) có thể nói thông thạo hai hoặc nhiều ngôn ngữ khác nhau trong khi giao tiếp với mọi người xung quanh. Ở nhà , trẻ em có thể giao tiếp với bố mẹ bằng tiếng mẹ đẻ hoặc cả hai thứ tiếng khác nhau của bố mẹ như trong các gia đình đa văn hoá sinh sống ( Anh, Úc hoặc Mĩ) . Nhưng khi đến trường hoặc ra đường các em lai giao tiếp bằng tiếng Anh với mọi người một cách lưu loát. Thực tế này cũng có rất nhiều ở Việt Nam. Chúng ta có thể thấy con cái của các nhân viên sứ quán Việt Nam tại nước ngoài lúc bé theo bố mẹ đi công tác đều nói được ngôn ngữ ở nước sở tại. Nhiều cháu có thể nói thông thạo không phải chỉ một thứ tiếng, mà nhiều hơn thế mặc dù bố mẹ các em không dạy. Ở nhà trẻ các cháu hoà nhập và giao tiếp rất tốt bằng tiếng của nước sở tại, mặc dù bố mẹ các cháu có thể không giỏi ngoại ngữ lắm. Lúc ở nhà chúng giao tiếp với bố mẹ bằng tiếng Việt. Các phụ huynh đều rất tiếc là sau khi về nước một thời gian thì khả năng sử dụng ngoại ngữ của các cháu bị mất dần đi rất nhanh theo thời gian.
Thực tế này cho thấy thì khi còn bé trẻ em có thể có nhiều lợi thế trong việc học ngôn ngữ hoặc ngọai ngữ. Khả năng kì diệu này ở trẻ em đã được Noam Chomsky – một nhà nghiên cứu Mĩ về tâm lí học ngôn ngữ nổi tiếng đã phải thốt lên rằng: " .......hầu hết trẻ em đều thụ đắc các kiến thức cơ bản ngôn ngữ hầu hết ở vào thời điểm các em đều 4 hoặc 5 tuổi. Ðúng là thỉnh thoảng chúng bị nhầm lẫn, nhưng đây là những lỗi không đáng kể. Một đứa trẻ lên 4 có thể nói rất trôi chảy. Hầu như tất cả trẻ em, chứ không phải chỉ một số ít các cháu có năng khiếu đêù đạt được sự thành công này". [7,tr76]
3. Kết luận và đề xuất
Những kết quả nghiên cứu về quá trình thụ đắc ngôn ngữ và các kết qủa nghiên cứu về tâm lí và sinh lí của trẻ em đều cho thấy việc học ngôn ngữ thứ hai hay ngooại ngữ trẻ em là rất thuận lợi và có thể rất dễ dàng nếu trẻ em được sớm tiếp xúc với ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ. Các dữ liệu thực tế (ở trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm qua cho chúng ta thấy trẻ em nói chung và trẻ em Việt Nam nói riêng đều có khả năng học và thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai rất diệu kỳ nếu chúng có điều kiện tốt. Việc biết thêm một ngôn ngữ nữa không làm ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ hay sự phát triển của tiếng mẹ đẻ, mà trái lại việc biết thêm một ngôn ngữ thứ hai sẽ làm cơ sở cho sự phát triển của tư duy và khả năng nhận thức của trẻ nhanh hơn. Các kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng thụ đắc ngôn ngữ theo con đường tự nhiên của trẻ này sẽ giảm dần đi nếu trẻ em quá độ tuổi dậy thì. Nếu chúng ta bỏ qua giai đoạn học ngoại ngữ dễ dàng nhất này của trẻ thì đây së là một sự lãng phí về nhân tài và chất xám rất lớn.
Theo chúng tôi, nếu có điều kiện thì chúng ta nên cho trẻ tiếp xúc và làm quen với tiếng Anh ngay ở các lớp mầm non, bậc tiểu học nên cho học sinh làm quen với tiếng Anh ngay từ lớp một. Vì đây là thời điểm tốt nhất cho việc thụ đắc tiếng Anh của trẻ. Vấn đề là chúng ta tổ chức việc dạy học như thế nào mà thôi. Ðể có kết quả tốt chúng ta cần phải đào tạo lại đội ngũ giáo viên hiện nay sao cho họ hiểu được quá trình học sẽ khác rất nhiều với quá trình thụ đắcr ngôn ngữ thứ hai. Mặt khác, hệ thống chương trình, giáo trình và cách kiểm tra đánh giá cüng phải thay đổi một cách đồng bộ theo hướng dạy học tích cực lấy nguời học làm trung tâm. Điều quan trọng nữa là nhà nước phải tạo điều kiện đầu tư vào các trường có khả năng đào tạo mũi nhọn để có kinh nghiệm dạy song ngữ theo kiểm khoán 10 ở Vînh Phúc. Sau đó sẽ rút kinh nghiệm và cho triển khai đại trà trên phạm vi rộng khắp. Rất nên tránh tình trạng không quản lí được là cấm dạy như hiện nay. Vì điều này chỉ tạo ra sự thiệt thòi cho thế hệ mai sau mà thôi. Ðối với các trường không đủ điều kiện dạy theo đúng yêu cầu đổi mới các nhà quản lí có thể cho tạm dừng việc dạy tiếng Anh để chuẩn hoá lại giáo viên và tạo cơ sở vật chất tốt hơn cho việc dạy tiếng Anh. Chúng tôi hy vọng rằng với nhiệt tình và sự yêu nghề, trí tuệ của tập thể và sự mạnh dạn đầu tư của nhà nước cho các công trình nghiên cứu và cơ sở vật chất cho các trung tâm đào tạo và các trường dân lập có kinh nghiệm dạy song ngữ Anh Việt thì chúng ta hoàn toàn có khả năng dạy song ngữ cho trẻ em Việt Nam. Hy vọng rằng các quyết định sau hội nghị này sẽ đem lại cho con cháu chúng ta khả năng sử dụng ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng không kém gi các quốc gia láng giềng và các nước trên thế giới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
l. Bình P.D. 2003. Khảo sát các lỗi giao thoa Ngôn ngữ và văn hoá trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh. ÐHQG Hà Nội.
2. Brown, H.D.1987. Principles of Language Learning and Teaching. London Prentice Hall Regents
3. Hubbard, P , Jones, H , Thornton, B and Wheeler, R. 1983. A Training Course for TEFL.Oxford. CUP 4. Ellis, R. 1994. The Study of Second Language Acquisition. London. CUP 5. Halliwell. S. 1992. Teaching English in the Primary Classroom. London. Longman. 6. Scott, W.A and Ytreberg, L. H. Teaching English to Children. 1992. London. Longman. 7, Uan, N. Q (ed.) 2000. Tâm lí học Đại cương. Hà Nội NxB ÐHQGHN. 8. Wardhaugh, R . 1986. An Introduction to Sociliguistics. Cambridge. Blackwell.